Trong những cánh rừng Miền Đông

Thảo luận trong 'Tuyển tập Nguyên Thảo' bắt đầu bởi nguyenthao, 25/9/09.

  1. nguyenthao

    nguyenthao
    Expand Collapse
    Chủ tịch Ban Sáng Lập
    Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    15/7/09
    Bài viết:
    909
    Đã được thích:
    328
    Trước năm 1992 tôi vẫn thường cùng bạn bè vào rừng đi săn. Tôi có một khẩu Steven một nòng cỡ đạn 12 ly bắn đạn ghém tự đóng lấy. Hồi đó săn bắn chưa bị cấm nhưng muốn sử dụng súng săn thì phải đăng ký và được cấp giấy phép hẳn hoi. Gọi là đi săn cho nó oai chứ thật ra tôi vào rừng giống như đi dã ngoại, với mục đich rèn luyện sức chịu đựng và lòng dũng cảm là chính. Rất nhiều người sợ rơi vào cảnh một mình giữa rừng sâu hoang vắng. Nhưng nếu vào rừng với một khẩu súng trong tay, một băng đạn đeo lưng, một cái đèn săn đội đầu chạy ắc quy đã nạp đủ và một con dao săn sắc bén bên hông thì còn sợ gì nữa.

    Đi vào rừng là một chuyện còn muốn hiểu rừng hay như người ta nói “muốn nghe được hơi thở của rừng” thì lại là chuyện khác. Trước tiên, phải biết cách đi trong rừng. Vào mùa khô, khi lá cây và cành khô phủ đầy mặt đất những cánh rừng phía Nam, đặc biệt là ở vùng miền Đông Nam Bộ, muốn đi êm như nai, không gây ra một tiếng động nào thì phải nhón chân, đặt mũi chân xuống trước, xoay mũi chân tạo ra chỗ để áp bàn chân xuống và bước tiếp. Khi bước đi phải tập trung quan sát bằng mắt, bằng tai và bằng cả sự cảm nhận. Nghe thấy bất cứ một tiếng động lạ nào hay nhìn thấy bất cứ một chuyển động khác thường nào thì phải ngay lập tức “đông cứng” ngay, nghĩa là phải giữ nguyên tư thế hiện thời, dù đang co một chân lên hay đang dùng tay đỡ lấy một cành cây chắn lối. Không được hút thuốc (không những mùi thuốc làm bọn thú rừng dễ phát hiện từ xa mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây cháy rừng hết sức nguy hiểm), không được ho hay nói chuyện. Đi theo cách đó bạn sẽ nhìn thấy những con sóc đùa giỡn bên hốc trên cây cao, con chim gõ kiến mào đỏ đang gõ cốc cốc vào thân cây hay nghe tiếng loạt xoạt của những con gà sao đang bới đất ở đâu đó dưới những lùm cây rậm rạp. Đôi khi bạn còn có thể gặp một đàn khỉ, một đàn gà rừng hay cả hươu, nai và mễn nữa.

    Trong rừng, bạn đừng tưởng bọn chim, thú không quan tâm đến nhau. Nếu bạn biết thổi lá thành tiếng kêu rên của một con thú nhỏ bị thương, bạn sẽ thấy những con thú, chim muông ở quanh vùng sẽ tụ đến, mỗi loài theo cách của mình: nhanh nhất là bọn chim, chúng bay đến đậu trên những cành gần nơi phát ra tiếng kêu nghiêng ngó tìm kiếm, sau đến bọn sóc, rồi các con khác. Đôi khi những loài thú ăn thịt cũng mò đến một cách im lặng. Tôi được một người dân tộc Mường dạy cho cách thổi lá phát ra tiếng chim, tiếng thú con rên rỉ và tôi đã thử xem tác dụng của nó như thế nào. Nấp trong một bụi rậm trong rừng, tôi kề môi thổi lá như tiếng một con mễn nhỏ bị thương và thích thú quan sát những kẻ tò mò tìm tới. Vì bận thổi lá nên khẩu súng và đồ săn được để một bên ở dưới đất. Bỗng nghe “soạt” một tiếng bên mé phải. Tôi liếc sang và rợn người khi nhìn thấy một con báo đen vừa nhảy tới đang thu mình rình mồi. Để nó giật mình vùng chạy, tôi chụp khẩu súng và la lên một tiếng thật to. Cả đám chim thú tháo chạy tung tué, tôi cũng ướt mồ hôi.

    Bạn biết không, con tinh mắt nhất trong rừng là gà rừng, con thính mũi nhất trong rừng là voi, nhì đến heo rừng. Đi rừng đáng sợ nhất là gặp voi vì voi có thể huơ vòi đánh hơi thấy hơi người và mùi súng đạn ở cách xa đến 5 - 10 km tuỳ hướng gió, nếu chúng muốn tránh thì chúng sẽ di chuyển sang hướng khác, nhưng nếu chúng không muốn tránh thì thật đáng ngại. Ngoài voi cũng có những thú dữ khác mà khi đối mặt người không đủ dũng cảm đành phó mặc cho số phận như heo độc, hổ, báo, gấu, min… Nói vậy thôi chứ đến 1992 thì rừng đã bị tàn phá rất nhiều, thú lớn dạt đi cả, lên mãi biên giới Việt Lào cũng chỉ còn gặp những loài thú nhỏ như mễn, cầy, chồn, cáo, nhím, cheo, gà rừng,…

    Những cánh rừng phía Nam ngày xưa kia hết sức phong phú. Những địa danh như Mã Đà, Hiếu Liêm, Đồng Xoài, Bù Đăng, Bà Hào, Trảng Min, Nam Cát Tiên, Tánh Linh, Vĩnh Hảo,…được nhiều người biết đến. Tôi đã cùng đám bạn vào rừng nhiều lần và cũng được chứng kiến nhiều chuyện lạ, cả vui lẫn buồn.

    Để tôi kể bạn nghe...

    Cuộc săn tôm kỳ lạ

    Trong một lần theo chúng bạn đến một khu rừng bên bờ Sông Bé đoạn gần Phú Giáo, tôi được chứng kiến tận mắt một cách bắt tôm kỳ lạ mà có lẽ trên thế gian này chỉ ở đây mới có. Hôm đó chúng tôi đi xe máy vào tận trong rừng, đường rất khó đi. Đến khi không còn đường để đi tiếp nữa, chúng tôi dừng lại bên một xóm nhỏ bên ngã ba sông. Gọi là xóm chứ thật ra chỉ có 3 mái lán lá đơn sơ, dựng tạm của những người vào rừng khai thác lâm sản hay đánh cá. Những người này đều có nhà cửa, gia đình ở thị trấn Phú Giáo, họ chỉ vào đây sống tạm trong lúc đóng đăng bắt cá. Chính họ là những người sáng tạo ra phương pháp bắt tôm kỳ lạ mà tôi sẽ kể ngay đây. Người ta bóc vỏ sắn (khoai mỳ) chặt củ sắn ra thành hai hay ba đoạn rồi ngâm vào nước vài ngày cho đến khi bề ngoài của củ sắn trở nên mềm, dính nhơm nhớp thì lấy một cọc tre nhọn cắm sâu vào giữa củ sắn. Họ mang những xiên sắn này ra sông. Nơi họ chọn bắt tôm là chỗ dòng sông mở rộng ra, nước chảy chậm, hơi quẩn, trước đó đã được thăm dò cẩn thận. Họ lội xuống cắm những xiên sắn này xuống đáy sông, đánh dấu rồi lên. Ngày hôm sau, những người này trở lại mang theo một cái máy bơm hơi chạy xăng, vài cuộn ống nhựa mềm, vài quả bóng cao su và những cái xiên làm bằng nan hoa (tăm) xe đạp đã đập dẹp và mài nhọn phía đầu, đuôi cắm vào một cái chuôi bằng trúc hay gỗ có đai sắt giữ chặt. Khi xuống nước, họ quàng vào người những hòn đá to để giữ cho họ khỏi nổi lên khi ngồi dưới đáy, miệng ngậm ống cao su để thở, đầu kia của chiếc ống buộc vào quả bóng cao su cho nổi trên mặt nước để khỏi bị xoắn, các ống cắm chung vào một bộ chia hơi nối với chiếc máy bơm hơi để trên bờ. Họ ngồi từng người bên cạnh cục mồi nơi bọn tôm đang bu lấy để rỉa, dùng dĩa xiên nhanh vào phía đầu con tôm nơi có nhiều râu ria tua tủa để bắt lấy nó, cho vào trong giỏ lưới buộc bên người rồi lại chờ con khác đến. Họ ngồi dưới nước lâu đến hai ba tiếng, lúc lên, ai cũng nhợt nhạt, lạnh cóng, hai hàm răng va vào nhau công cốc. Mỗi ngày một người kiếm được khoảng 1 kg tôm sông khá lớn con, hôm nào hên thì được vài kg theo cách bắt kỳ lạ này. Họ bảo, 1 kg tôm bán được 40 - 50 ngàn đồng (thời điểm 1995), một số tiền mà đi làm rẫy thuê hay phụ hồ ở vùng quê này không thể kiếm được. Họ là những người lao động cần cù, chịu khó nhưng cũng rất sởi lởi, hiếu khách. Trong bữa cơm tối, họ có thể bỏ ra hẳn nửa số tôm thu hoạch được trong ngày để chiêu đãi khách. Chúng tôi khéo từ chối với lý do là lên rừng để thưởng thức món ăn rừng chứ tôm cá thì ở thành phố không thiếu. Thực ra, nhìn những mảng da nhăn nheo tái xám kia, chúng tôi hiểu họ đang đánh đổi sức khoẻ của mình lấy đồng tiền mưu sinh. Đến khi họ rủ chúng tôi đi đào măng thì lại là chuyện khác. Măng lồ ô vào cuối mùa khô nảy ngầm trong đất chờ mùa mưa tới là trồi lên. Mùa này hình như chỉ có con người và loài nhím là có thể phát hiện ra và biết cách đào lấy những củ măng đang mọc ngầm dưới đất. Với cái bụng đói meo vì vận động nhiều, được ăn cơm nóng với món măng tươi chưng tương với cá sông ở giữa rừng ai cũng xuýt xoa sao mà ngon thế.


    Những kẻ phá đám

    Một hôm những người bắt tôm phát hiện một điều chưa xảy ra với họ bao giờ: Số cọc sắn cắm chiều tối hôm trước sáng hôm sau đã biến mất. Không biết ai đã lấy những cái cọc ấy? Đó là công cụ lao động của họ, là miếng ăn của họ và hơn nữa, là hy vọng của gia đình họ. Ở đây, mọi người đầu biết nhau cả. Cũng có những người trong thị trấn hay vùng lân cận vào rừng bắt tôm cá nhưng họ chia nhau ở những khúc sông khác, không ai đến đây mà phá cả. Họ quyết tâm rình xem ai là kẻ phá bĩnh. Họ nấp trong rừng chờ suốt ngày mà không thấy ai ra đó cả nên chập tối cắm lại mớ cọc sắn khác rồi về. Sáng hôm sau họ ra kiểm tra và giật mình chưng hửng: lại mất rồi! Vậy là có kẻ đến vào ban đêm. Hôm sau họ rình cả ngày lẫn đêm mà không bắt gặp kẻ phá quấy dấu mặt đó. Nhân có chúng tôi đến đây lại được trang bị đủ súng đạn, ống nhòm và biết cách tiếp cận đối tượng, họ đề nghị chúng tôi giúp phát hiện kẻ giấu mặt kia. Chúng tôi đến tận nơi quan sát thật kỹ những dấu vết khả nghi. Khi đi theo những lối mòn nhỏ dẫn sâu vào rừng chúng tôi phát hiện một vài cọc tre bị vứt lại, vài cái lõi củ sắn. Không lẽ người nào lấy trộm sắn để ăn? Tại sao đã đi ăn trộm lại không đào sắn tươi mà lại trộm sắn đã ôi thiu vì ngâm nước ở dưới sông? Theo dấu vết, chúng tôi đi sâu vào rừng, chia nhau theo nhiều hướng. Trên một cành cây rất cao, tôi nhìn thấy một con khỉ đực to lớn đang im lặng quan sát chúng tôi. Có lẽ thủ phạm là bọn này đây. Chúng tôi trở lại lán và đề nghị mọi người cứ đi cắm sắn như thường lệ, lúc đến bờ sông thì cố tình làm huyên náo, huơ cao những cọc sắn lên cho những đôi mắt hau háu đang chăm chú theo dõi từ trên những cành cây cao rậm rạp kia nhìn thấy rõ. Rồi họ về hết, chúng tôi đã núp sẵn bên kia bờ sông phía đối diện, im lặng phục kích. Khi bóng người cuối cùng khuất sau bìa rừng, những con khỉ bắt đầu hành động. Con đầu đàn ra hiệu, cả đàn khỉ nhanh nhẹn, im lặng mò ra bờ sông. Một con trèo ngay lên tảng đá to bên sông quan sát canh chừng, đám còn lại nhảy ùm xuống nước. Đến lúc này tôi mới nhìn thấy tận mắt con khỉ bơi, lặn tài như thế nào. Đám khỉ lặn sâu xuống lòng sông, túm lấy các cọc sắn, nhổ lên, bơi nhanh vào bờ. Những phao tiêu nổi trên mặt nước làm dấu dẫn dắt lũ khỉ đến đúng chỗ để bơi ra lặn xuống. Chúng tôi nháy nhau rồi chĩa súng lên trời bóp cò: “đùng, đùng, đùng”, tiếng nổ chát chúa vang lên trong rừng, dội lại âm vang. Lũ khỉ cuống cuồng chạy tháo thân, vứt lại những cọc sắn còn đang gặm dở với những vết răng nham nhở. Chúng tôi ùa ra khỏi chỗ nấp, nhảy cẫng lên như những người chiến thắng. Mấy ông bạn chài nghe tiếng súng chạy hộc tốc đến. “Ai, bọn nào, các bác bắt được chưa?” - họ hỏi dồn. “Bọn khỉ” – chúng tôi trả lời và chỉ cho họ thấy những cọc sắn nham nhở bị vứt lại. Cả bọn bò ra cười. Có người hỏi “Sao không bắn lấy vài con nấu cao?”. Anh Cường, người lớn tuổi nhất trong chúng tôi trả lời “Bọn ấy làm lông xong trông y chang một đứa trẻ nhỏ, hãi lắm”. Từ đó bọn khỉ không đến phá nữa vì chúng rất sợ tiếng súng và ánh chớp đầu nòng. Những người bắt tôm lại tiếp tục ngâm mình dưới nước làm cái công việc mà họ đã chọn. Không biết bây giờ trong số họ ai còn ai mất, có ai còn ngâm mình trong dòng nước sông Bé như thế nữa không?

    Săn gà rừng
    Trong những cánh rừng mà tôi đã đến, không đâu nhiều gà rừng bằng rừng Đồng Xoài trước năm 1988. Ở đây tôi đã gặp những đàn gà rừng lên đến gần 50 con ra ăn vào sáng sớm hay xẩm chiều trên những trảng rộng hay bãi sắn mới thu hoạch, trông đỏ cả một vùng. Khi động chúng bay ào ào như bão. Gà rừng cực kỳ tinh mắt. Đó là sự sống còn của chúng. Trong rừng, gà rừng có quá nhiều kẻ thù: chồn, cáo, mèo rừng,… nên chỉ có đôi mắt tinh tường mới cứu được chúng chứ chỉ dựa vào đôi cánh hay tài lủi trong bụi rậm thôi thì khó toàn mạng. Bạn có thể hình dung thế này: Nếu bạn ngồi rình trong bụi cây rậm rạp vào buổi sáng cạnh một bãi đất trống nơi gà rừng sẽ ra ăn và giữ im phăng phắc thì con gà không phát hiện ra bạn. Chỉ cần bạn cử động nhẹ như lắc đầu, phẩy tay hay duỗi chân là lập tức con gà rừng bốc lên bay ngay. Quan sát kỹ mới thấy con gà rừng chỉ bay khi khẩn cấp chứ bình thường thì chúng chỉ lủi hay đi trên mặt đất. Bạn có thể thử bằng cách lấy cành cây lấp lối đi thường ngày của chúng mà xem, nếu có một chỗ nào đó có thể lách qua được thì chúng sẽ lách qua, còn không có thì chúng sẽ đi vòng qua chướng ngại vật chứ không nhảy lên và bay qua, điều mà chúng có thể thực hiện dễ dàng. Chính thói quen này đã hại chúng. Người ta làm những cái bẫy rất đơn giản để bắt chúng. Biết đàn gà thường ra kiếm ăn trên những con đường mòn trong rừng, người đi bẫy chọn chỗ có vết chân gà bới đất còn mới làm chỗ đặt bẫy. Họ chặt cành cây xếp kín trên mặt lối đi, chỉ để hở một khe nhỏ vừa thân con gà lách qua, đóng một cái cọc tre nhỏ bên mép khe hở đó để cài bẫy, phía sau chôn một cần bẫy bằng tre hay lấy ngay cành cây bên lối đi làm cần bẫy, miễn là nó đủ mạnh nhấc bổng con gà dính bẫy lên là được. Dùng dây dù làm một cái thòng lọng treo trong khe hở mà con gà sẽ đi qua sao cho phía trên cao bằng chiều cao cọc lẫy, phía dưới căn tầm ngang diều con gà, buộc đầu kia của sợi dây vào cần bẫy, vít cần bẫy xuống, cài lẫy, kiểm tra lại. Thế là xong. Làm bẫy khoảng 3-4 giờ chiều là có thể đi thăm bẫy vào 6 giờ tối hay 6-7 giờ sáng hôm sau. Con gà rừng chỉ chịu khuất phục khi thòng lọng thít vào cổ nó, còn nếu thít vào chân hay chỗ khác là nó có thể dùng mỏ rứt đứt sợi dây dù và thoát thân.

    [​IMG] [​IMG]
    Gà rừng trống có 2 đồng tiền trắng 2 bên má rất đặc trưng (trái) còn gà nhà thì không có (phải)

    Gà rừng trống nặng từ 1 kg đến 1.3 kg, gà mái nặng khoảng 7 – 8 lạng. Thịt gà rừng ngon vô địch so với tất cả các loài gà nhà từ gà tre, gà ri đến gà trống thiến, không kể gì đến gà công nghiệp. Tuy nhỏ con nhưng gà rừng trống vô cùng mạnh mẽ cả trong chiến đấu lẫn trong việc duy trì nòi giống. Tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh môt con gà rừng trống bay ra tấn công con gà trống nhà để giành gà mái trong sân một gia đình sống gần bìa rừng. Kẻ tấn công nhỏ thó chỉ bằng 1/3 con gà trống nhà tỏ ra vô cùng nhanh nhẹn và có những thế đánh hiểm đến mức chỉ tung ra một cước cũng đã đá rách diều đối thủ, cú đá tiếp theo hạ gục hoàn toàn kẻ to xác. Rồi nhanh nhẹn không kém xấn ngay đến đám gà mái mà hành sự liên tục. Xem ra, con gà trống nhà thua là phải vì kẻ tấn công có thể bay vụt lên rồi bổ nhào xuống với hai cái cựa dài cong, nhọn hoắt (tôi có vài đôi chân gà rừng treo gác bếp khô quắt, cựa của nó mảnh và dài đến gần 5cm, đen bóng dễ sợ). Mà về khoản kia, con gà rừng trống cũng là tay cự phách, nó đạp liên tục đến mấy con gà mái chứ không phải một. Có thịt anh trống này ra mới thấy rõ ngọn nguồn: hai hòn ngọc giống của hắn to gấp rưỡi đến gấp đôi so với ngọc hành của con gà trống nhà! Một chị nọ kể lại câu chuyện bị con gà trống rừng ve vãn mà mặt mũi đỏ bừng. Hôm ấy đến thăm nhà một người họ hàng có nuôi một con gà trống rừng trong chuồng quây lưới B40 kín mít rất rộng để lấy giống. Khi chị này bước vào, kéo cái ống quần đen lên cho khỏi vướng để hở ra một khoảng chân trắng trẻo. Anh gà trống hình dung ra một ả mái đen trắng nõn nà sà ngay đến, xệ cánh ve vãn, chực nhảy ngay lên. Chị này vừa sợ, vừa xấu hổ chạy quẩn trong chuồng, con gà kia vẫn hăm hở bám theo. Ra khỏi chuồng rồi, chị nọ mới quay lại mắng cho một câu: “đồ dê cụ!”. Nghe như bịa, thế mà thật 100% mới lạ. Chả là tôi cũng biết anh bạn nuôi gà rừng ấy. Cứ sểnh ra là nó bay mất luôn, không bao giờ quay trở lại.

    [​IMG]
    Gà lôi trắng. Nguồn: Sách đỏ Việt Nam.

    Trong những cánh rừng phía Nam có nhiều loại gà. Loại phổ biến nhất và giống gà ta nhất được gọi chung là gà rừng. Con trống mào đỏ, phía má có hai đồng xu trắng rất dễ nhận ra, lông màu hung đỏ, đuôi đen và khá dài, gà mái màu vàng nhạt hay xám tro trông rất bình thường. Ở những vùng thuận tiện cái ăn và an toàn chúng sinh sôi rất nhanh.Thường một đàn gà rừng có một con gà trống và hậu cung của nó gồm trung bình 4-5 con gà mái. Gà con theo cha mẹ đến lúc trưởng thành mới tách đàn vì thế đôi khi người ta bắt gặp đàn gà rừng đông đến hơn chục con, trong đó có nhiều con trống. Trong rừng thỉnh thoảng cũng có thể gặp những loài gà khác như gà sao hay gà lôi. Gà sao con trống có màu nhạt, khá to, nặng xấp xỉ con gà rừng trống đã kể ở trên nhưng kich thước phải to gấp rưỡi, gà sao mái có màu xám đen, nhỏ hơn, cả hai đều có những đốm sao trên lông cánh rất đẹp. Điểm đặc biệt của gà sao là gà sao trống có cựa đúp: mỗi bên chân có 2 cựa, cái này dưới cái kia cách khoảng ½ cm. Cựa gà sao không dài và thân cựa không tròn mà dẹp như gai hoa hồng. Gà lôi thì to hơn và rất đẹp. Ở các khu rừng phía Nam có hai loại gà lôi là gà lôi xám và gà lôi trắng. Gà lôi xám có lông màu xám lục phớt, sống trong rừng thưa, con trống đầy đặn, mặt đỏ rực, phía trên đỉnh đầu mọc ra một chùm lông dựng thẳng y như cái ngù rất lạ. Gà lôi mái đầu nhỏ, mình tròn mũm mĩm, lông rất mượt. Chúng thích sống ở nơi hoang vắng, ăn hạt cây, côn trùng nhỏ và ít cỏ, chúng đi nhiều hơn là bay. Ai đã trông thấy chúng đi hàng một cũn cũn trên một lối mòn nhỏ trong rừng thì hẳn sẽ liên tưởng đến một chuỗi ngọc đang uốn lượn rất mềm mại. Gà lôi trắng to hơn, con trống có lông màu trắng, con mái lông màu đất hung. Con mái trông ục ích, to đẫy phải đến 4kg, con trống mảnh mai hơn, nặng chỉ hơn 2kg.

    [​IMG]
    Gà lôi xám. Nguồn: Sách đỏ Việt Nam.

    Bọn gà lôi trắng thích sống trên cao, làm tổ trên vách đá hay cây to mọc trên sườn núi. Chúng bay giỏi hơn gà lôi xám. Cả hai loài gà lôi này đều rất hiếm, ít gặp. Nếu gặp thì chắc chỉ những nơi rừng sâu hoang vắng không dấu chân người vì chúng rất nhát và chúng sợ mùi hóa chất mà con người hay dùng trong phân bón hay thuốc trừ sâu. Có lẽ vì thế mà chúng thoát được bàn tay săn bắt tham lam của con người.

    Bẫy kỳ đà
    Bạn có khi nào nhìn thấy con kỳ đà chưa? Đó là chàng “vệ sinh viên” tự nguyện ở trong rừng. Nó chén sạch tất cả những gì có nguồn gốc động vật bắt đầu bốc mùi. Nhìn nó đi ngúc ngoắc, đầu luôn đảo qua lại, cái lưỡi thè ra đánh hơi y như rắn, bốn chân có móng vuốt mạnh mẽ người ta liên tưởng đến loài cá sấu sông Nil hay rồng Kômônđô nhưng kích thước nhỏ hơn, con trưởng thành vào khoảng hơn 10kg. Kỳ đà là một vận động viên đa năng: Bơi giỏi, biết trèo cây, chạy khá nhanh. Nhờ bộ móng vuốt nó có thể trèo lên cây cao để tấn công tổ chim, ăn trứng chim hoặc chim non. Nó cũng có thể sục xuống nước kiếm thức ăn dưới nước và bơi rất giỏi. Nó thích nước. Tuy nhiên, thức ăn yêu thích của nó lại là xác thú vật chết đang phân huỷ. Người ta lợi dụng thói quen này để bắt kỳ đà. Chọn một khúc suối có vết chân thú xuống uống nước vào mùa khô, nhìn kỹ vì vết chân kỳ đà rất dễ phát hiện bởi khi đi nó không thu móng lại được như thú họ mèo. Khi phát hiện khả năng có kỳ đà, người ta tìm nơi có những bụi lồ ô mọc sát bờ suối, xếp đá thành hai hàng tạo ra một lối đi chỉ vừa mình con kỳ đà, cửa vào hướng về lối xuống suối, ở cuối ngõ cụt bằng đá ấy là nơi đặt mồi và bẫy. Vào đến gần chỗ đặt mồi, người ta làm một cái bẫy thòng lọng kiểu giống như bẫy gà rừng nhưng dùng dây cáp phanh xe đạp, đầu kia buộc vào một ngọn lồ ô đã vít xuống làm cần bẫy. Miếng mồi đặt cách xa cái thòng lọng gần nửa mét - khoảng cách đủ để con kỳ đà chui đầu vào thòng lọng nhưng lại chưa tới miếng mồi. Mồi là một phần của con thú nhỏ đã chết, như con cheo chẳng hạn, được ghim chặt xuống đất để đề phòng con thú khác đến lấy đi. Người ta thường đặt bẫy vào xẩm tối và thăm bẫy sáng hôm sau vì kỳ đà hay đi ăn đêm.

    [​IMG]
    Kỳ đà xám. Nguồn: Sách đỏ Việt Nam

    Kỳ đà có thính giác tốt, cộng thêm cái lưỡi “nếm” được mùi trong không khí nữa thì ở khoảng cách xa 1-2 km nó sẽ phát hiện ra mùi toả ra từ miếng mồi. Khi mò đến, nó chỉ có cách duy nhất là đi theo gờ đá đã dựng sẵn, chui đầu qua thòng lọng để sát vách đá một cách dễ dàng nhưng khi rướn mình lên để ngoạm con mồi thì vai của nó đã đẩy cần lẫy trượt đi và “vút” một cái, cả cây lồ ô bật lên treo kẻ tham ăn lơ lửng trên dòng suối cạn. Nó không thể thoát được khi vòng cáp bằng thép đã siết chặt cổ nó vì nó không có điểm tựa. Có người bảo thịt kỳ đà trắng và ngon như thịt gà, cũng có nười bảo thịt nó tanh vì ăn xác chết vì vậy mà ít người đi bẫy kỳ đà. Âu cũng là cái may cho chúng. Tôi chưa bao giờ đi bẫy kỳ đà, chỉ nghe kể chuyện và xem người ta làm, viết lại đây để bạn đọc tham khảo chơi.


    Chúa sơn lâm

    Ở Tánh Linh, Bình Thuận có một khu rừng khá lạ: đó là một khoảnh rừng rộng và khá bằng phẳng nhưng lại nằm trên đỉnh núi hay nói đúng hơn, đó là một bình nguyên ở trên núi khá cao, lối lên dốc đứng. Chúng tôi đến chân núi vào buổi chiều, đóng trại, nấu cơm ăn và dự định tối hôm đó sẽ săn dưới chân núi, gần suối, hôm sau mới lên núi. Xách súng, đội đèn đi từ 7 giờ tối đến 10 giờ không đụng một con gì, anh Trầm - một đại tá quân đội về hưu – quay sang hỏi tôi “Giờ này chú mày có dám lên núi không?”. Tôi thầm nghĩ đã xách súng vào rừng sao lại dám hay không dám nhưng không tiện nói ra, chỉ gật đầu “em sẵn sàng”. Hai anh em đeo ba lô, khoác súng, chặt một đoạn cây làm gậy chống rồi lầm lũi ngược dốc lên núi. Chỗ này dốc đứng đến mức người ta có thể để cả thân cây đã cưa từ trên đỉnh núi trượt thẳng xuống đến chân dốc một cách dễ dàng! Mệt đứt hơi, mồ hôi vã ra như tắm. Trèo được mươi bước tôi phải dừng lại nghỉ. Phía trước anh Trầm vẫn bước những bước ngắn, đều đặn. Anh nhắc “có dừng lại thì đứng mà nghỉ, đừng ngồi, ngồi rồi không đi được đâu”. Thật xấu hổ, anh Trầm hơn tôi mười mấy tuổi mà tôi theo không kịp. Tôi gượng bước tiếp, nhiều khi đu cả người vào cây gậy mà nhích lên. Khoảng một tiếng sau thì hai anh em lên đến đỉnh dốc. Leo lên một thân cây đổ, tôi há mồm, căng mũi mà thở, tay quạt lấy quạt để. Bỗng phía sau tôi vang lên một tiếng “hùm” ngắn, gọn. Theo bản năng, tôi chụp khẩu súng, xoay người lia đèn tìm kiếm. Không thấy gì cả. Nhìn sang, anh Trầm vẫn đang quạt, thản nhiên như không. Tôi hỏi “con gì kêu vậy anh?”. “Có gì đâu” – anh trả lời. Nghỉ một hồi hai anh em đi tiếp. Anh bảo đi sát vào nhau, anh soi phía trước và bên trái, tôi soi bên phải và thỉnh thoảng lắc đèn về phía sau. Tôi chưa bao giờ đi cặp kiểu ấy, hỏi anh chỉ nói rằng chỗ này rừng lạ, cẩn thận vẫn hơn. Trên núi, mặt đất phẳng như đồng bằng, những khóm cây lớn mọc theo hàng, lia đèn rọi qua khe bị chắn bởi các thân cây đến xa tít, tuyệt không đụng một con thú nào.

    [​IMG]

    Đi độ hơn 1 km thì đến một trảng cỏ rộng, ngày trước là sân bay trực thăng dã chiến của Mỹ trên núi Tánh Linh, đây đó còn vương lại mảnh thùng phuy cũ và dây kẽm gai. Là ánh đèn ngang mặt trảng cỏ, cũng không đụng một con thú nhỏ. Kỳ thật, lẽ ra đây là chỗ ưa thích của bọn thỏ rừng, cheo và mèo rừng. Đi đến 2 giờ sáng chẳng đụng một con gì cả, anh Trầm chọn một khóm cây giữa trảng hai anh em căng võng, tăng đi ngủ. Anh bảo tôi gom củi khô rồi nhóm lên 3 đống lửa xung quanh chỗ ngủ rồi leo lên võng, kéo mùng che kín mặt võng mà ngủ. Tôi vừa đặt lưng xuống thì lại nghe một tiếng “hùm” gần đâu đó. Chú ý lắng nghe tôi thấy có tiếng động cách chúng tôi không xa lắm. Tôi cầm súng, lắp đạn, lia đèn tìm kiếm. Im lặng hoàn toàn. Trở về võng nằm chưa ấm lưng lại nghe tiếng động, từ hướng khác. Tôi cầm súng đội đèn đi quanh một vòng, không thấy gì cả. Đến khi trèo lại lên võng mới nghe anh Trầm nói tỉnh queo “Có lửa, chẳng con gì dám tới đâu”.

    [​IMG]

    Sáng hôm sau, tôi xách súng đi tìm hiểu xem cái gì gây ra tiếng động trong đêm. Rừng thưa, ban ngày nhìn rõ mồn một, tầm quan sát rộng, vậy mà chẳng thấy bóng dáng con gì cả. Cách chỗ chúng tôi ngủ qua đêm khoảng 25 – 30 mét tôi phát hiện ra dấu chân thú lớn để lại trên nền đất ẩm xoay thành một vòng tròn. Theo phân tích của tôi thì dấu chân là của con thú thuộc họ nhà mèo vì hình năm ngôi rất rõ. Hỏi anh Trầm, anh chỉ cười bảo “Từ hôm qua đến nay soi toét mắt có thấy con thú nào đâu”. Rồi hai anh em thu dọn đồ và xuống núi. Rời đỉnh núi khoảng mươi mét, tôi lại nghe một tiếng “hùm” nhưng hình như là vọng lại từ khá xa. Đường trơn tuột, phải đi lùi, túm lấy dây rừng mà tụt xuống.

    [​IMG]

    Xuống đến chân núi, lúc ra suối rửa chân tay anh Trầm mới hỏi “Cậu biết là con gì đêm qua không?”. “Không, em biết là có con gì đó nhưng không thấy bắt đèn” – tôi thành thật trả lời. “Cọp đấy, tớ sợ cậu biết là cọp lại… vãi cả ra quần nên mới im”. “Súng trong tay em sợ gì” – tôi cố tự trấn an. Anh bảo anh đã đi rừng nhiều, ngày xưa còn đi săn trong Trường Sơn kiếm thịt cho cả trung đoàn nên đã nhiều lần gặp cọp. Đó là chúa sơn lâm, nơi nào cọp xuất hiện là tuyệt đối không có một con thú nào dám ra kiếm ăn. Cả tối hôm qua chúng tôi soi mà không đụng con nào là vì thế. Con cọp trên núi Tánh Linh này là con mới trưởng thành, chưa đụng thợ săn. Nó coi vùng đất này là của nó nên khi có kẻ xâm phạm thì nó nhảy xung quanh vừa để cảnh báo vừa quan sát. Mắt cọp lúc bắt đèn trông to tướng, đỏ hồng và thường thì chỉ nhìn thấy một mắt. Cọp sợ lửa nên không đến gần, ở khoảng cách xa khó mà phát hiện ra nó. Tôi nghe mà phân vân, không ra sợ vì tôi đã nhiều lần một mình xách súng vào rừng giữa đêm khuya, cũng không ra thích thú, phải rồi, có cái gì đó vị nể. Chẳng phải tự nhiên mà cọp có vị trí độc tôn trong rừng.


    Đối mặt

    Chúng tôi lên đến Bình Long lúc mặt trời đã xiên khoai. Giữa mùa khô năm 1986, trời nóng kinh khủng. Từ chỗ đường nhựa đến chỗ rẽ vào trảng chỉ độ 25 km đường đất nhưng bụi mù mịt đã nhuộm đỏ tất tật: mũ, tóc, mặt, quần áo, xe cộ,…

    Chúng tôi chưa đến điểm săn này lần nào. Chỉ nghe vu vơ là vùng này nhiều thú lớn và rừng còn hoang sơ từ một người đi cưa gỗ gặp đâu bên Cát Tiên kể lại. Người đó cũng dặn là nếu lên Bình Long thì ghé trảng ông Tư trong rừng gần Bàu Le sẽ được hướng dẫn cụ thể. Thông tin thật ít nhưng mà máu thì đi, thế thôi.

    Người dân ở đây thật nhiệt tình, nghe hỏi thăm đường, người biết ông Tư chỉ đường rất cặn kẽ, chỉ có điều họ ước tính khoảng cách khá tuỳ tiện, ai cũng bảo sắp đến rồi, qua khúc kia, khúc nọ, gặp con suối, đi lên là tới. Thế mà đi mãi mới tới. Ông Tư đi vắng, chỉ có thằng bé con ông ấy cỡ 12 – 13 tuổi trông gầy gò nhưng nhanh nhẹn ở nhà. Nó vui vẻ mời chúng tôi vào nhà khi chúng tôi hỏi thăm đúng tên ba nó. Nó bảo điểm săn ở sâu trong rẫy kia, xe máy không vào được, lội bộ vào thôi. Nghỉ ngơi một chút rồi ba anh em chuẩn bị hành trang, xách súng theo thằng bé vào rừng. Băng qua nương bắp, qua con suối nhỏ, len lỏi qua một quãng rừng có dây leo chằng chịt chúng tôi vào một rẫy nhỏ trong rừng. Chỉ có một túp lều tạm đơn sơ nhưng các cột lại rất vững chắc, mắc võng vô tư. Thằng bé chỉ cho chúng tôi cái giếng nước sát bờ suối cạn và chỗ để ấm, chén rồi về. Rừng lạ. Việc đầu tiên là phải đi quan sát một vòng và phải đi nhanh kẻo tối sập xuống thì rất khó. Chúng tôi đeo băng đạn, đèn săn, cầm súng toả vào rừng. Theo thói quen đã đi cùng nhau nhiều lần, chỉ nhìn nhau là hiểu cần phải làm thế nào. Vì nhỏ tuổi nhất nên tôi để hai ông anh đi trước, khi thấy một người rẽ trái, một người rẽ phải thì tôi đi thẳng. Chúng tôi đã có giao hẹn cách đi như thế nào để người này cách người kia ngoài một tầm súng nhưng lại có thể hỗ trợ nhau được ngay khi cần. Chúng tôi dự định đi quan sát địa hình đến lúc lên đèn thì về nấu cơm ăn, chờ đến tối hẳn, khoảng ngoài 8 giờ mới vào rừng, ai đi theo lối người đó đã thăm dò.

    Lối tôi chọn hướng là một con đường mòn nhỏ nhưng chỉ vượt qua một khe hẹp đầy lau lách thì trổ ra một trảng cỏ rộng, mé bên phải là dòng suối. Hay đây, thế nào tối bọn cheo, thỏ, mèo rừng cũng ra đây và biết đâu đi theo chúng là những con to hơn. Tôi quyết định đi theo mép dọc bờ suối để tìm vết chân thú. Giữa mùa khô, con suối cạn trơ đáy, chỉ còn một lạch nước nhỏ ri rỉ nước bên dưới. Tuyệt, thế là đủ. Ở những nơi thú ra uống nước, vết chân nai, mễn, heo rừng hằn sâu, cũng có vết chân cheo, cầy nhỏ. Xem kỹ, không có vết chân nào mới tinh cả. Địa hình cực đẹp, có trảng cỏ, có rừng cây rậm rạp xen giữa là những quả đồi nhỏ, cây bụi thấp cỡ ngang ngực ken những khóm lồ ô già, gió đưa thân cọ vào nhau kẽo kẹt. Theo kinh nghiệm của tôi thì những nơi như thế có rất nhiều thú và chủng loại cũng rất đa dạng. Đi quan sát địa hình nên tôi không cần đi nhanh, cứ tha thẩn thả bộ, cái chính là tìm vết chân thú, quan sát địa hình, tìm những vị trí làm mốc khi tối xuống còn nhận ra hướng đi, về. Các mốc ấy thường là những cây to khác thường, mỏm đá biệt lập, con suối,… Buổi tối còn phải quan sát vị trí của các chòm sao trên trời để phụ thêm vào việc định hướng. Ai vào rừng mà không biết cách tìm phương hướng thì rất dễ lạc mà lạc rừng thì…coi như xong.

    Mải suy nghĩ, tôi đã đi đến hết trảng, bắt đầu bước vào lối đi nhỏ giữa hai quả đồi thấp, phía trước là rừng già. Trời tối rất nhanh. Đột nhiên tôi nghe tiếng chim lệnh hót “Croong,… o..ong, bỏi…”. Rùng mình, lạnh hết cả sống lưng. Tôi biết là chim lệnh luôn luôn đi theo cọp và nơi nào có tiếng chim lệnh hót là nơi đó có cọp. Tôi nhanh chóng thay viên đạn 9 vào khẩu súng cỡ 12 của mình, cầm súng chắc trong tay, nòng súng hơi chúi thấp xuống, tôi khom mình quan sát. Hỏng rồi, phải lùi ra trảng hay dấn vào khoảng trống bên trong chứ ở giữa khe hẹp thế này thì mình bí thế, cọp nó vồ mình dễ hơn là mình chơi nó! Lẽ ra phải lùi thì không hiểu sao tôi lại quyết định tiến. Càng gần bìa rừng thì trời tối càng mau. Không nhìn thấy con gì cả, cũng không nghe thấy một tiếng động nào, dù là nhỏ nhất. Gió thoang thoảng, tôi ngửi thấy mùi rất khét – mùi đặc trưng của cọp. À, ra mày đang rình tao đây. Tôi bật đèn săn trên đầu, lia từ từ để tìm con cọp. Tiếng chim lệnh lại vang lên ở phía bên phải. Tôi lia đèn về phía đó chăm chú quan sát. Bỗng nhiên, linh tính cho tôi biết là nó ở bên trái chứ không phải bên phải. Chầm chậm quay đèn sang trái. Đây rồi, bên sườn đồi bên trái, phía trước cách tôi độ 40 mét, hai con mắt đỏ rực to tướng lộ rõ trên nền rừng tối. Rất nhanh, một con mắt biến mất. Tôi biết khi bị chiếu đèn, con cọp mà nhắm một mắt lại hoặc quay ngang ra là lúc nó chuẩn bị tấn công. Lúc này thợ săn chỉ nhìn thấy một mắt cọp nên không biết bắn vào đâu (hai mắt thì căn vào chính giữa). Tầm này xa quá, chưa bắn được, mày vào gần hơn thì tao chơi mày luôn, hay là mình tiến đến gần nó chút? Với đạn 9 thì tầm sát thương mạnh nhất là 25 mét vì ở khoảng cách đó cả 9 viên chì sẽ chụp vào con thú. Tôi lừ lừ tiến lên rồi dừng lại thủ thế. Đột nhiên, tôi có cảm giác bất an. Giả sử nó có một cặp, một con phía sau, một con phía trước thì gay to. Nhưng mùa này chưa phải mùa cọp cặp đôi mà câu phương ngôn “Rừng nào cọp nấy” khẳng định rằng mỗi khu rừng chỉ có một chúa sơn lâm thôi. Lúc tôi tiến lên, tôi để ý thấy con cọp cũng tiến lại. À, ghê nhỉ, con này kinh đây. Tôi quyết định lùi dần ra trảng, dù gì ở đó cũng rộng chỗ quan sát hơn. Con cọp mở hai mắt nhìn tôi và … nó cũng đi lùi vào rừng! Bây giờ, tôi lại hoàn toàn bất an về phía sau lưng của mình vì không thể quan sát được. Tôi chợt nảy ra sáng kiến quay ngược đèn săn ra phía sau và bật thêm đèn pin cầm tay hướng ra phía trước, súng đã lên đạn luôn sẵn sàng ứng phó.

    [​IMG]

    Bỗng nhiên, tiếng chim lệnh vang lên phía sau lưng! Tôi hoảng hồn quay ngoắt lại. Không thấy ánh mắt nào cả, trảng cỏ đã lờ mờ trước mặt. Có lẽ con chim này bay bậy bạ vậy thôi chứ không phải ngay cạnh đó là con cọp. Quan sát kỹ xung quanh dưới ánh đèn săn, không một biểu hiện gì đặc biệt, chắc con cọp còn đâu đó nhưng không ở gần tôi. Để chắc ăn và cũng là hù doạ con thú, tôi hướng nòng súng lên trời bóp cò. Đùng! Tiếng nổ đanh vang lên trong không gian tĩnh lặng, anh chớp đầu nòng tuôn dài một vầng lửa. Tôi lắp đạn bắn tiếp 2 phát nữa liền nhau. Đó là tín hiệu cấp cứu mà anh em tôi quy định với nhau. Oành, oành hai phát súng từ hai phía báo hiệu họ đã nghe thấy hiệu báo động. Ngay sau đó, ánh đèn loang loáng cho biết họ đang nhanh chóng lao tới. Nghe tôi kể, anh Trầm nói gọn “Rút thôi”. Ba anh em xây lưng vào nhau, chĩa súng ra ngoài rồi trong tư thế đó chúng tôi về chỗ nghỉ.


    [​IMG]

    “Phèo rồi, có cọp thì chẳng con thú nào ra đâu” – anh Trầm khẳng định. “Ờ, thôi sáng mai kiếm con gà rừng rồi về” – anh Cường phụ hoạ. Tôi thắc mắc về con chim lệnh và tiếc là chưa nhìn thấy tận mắt con chim mang hoạ đó. Anh Trầm giảng giải: Chim lệnh là loài chim duy nhất đi theo cọp để “xỉa răng” cho cọp! Chả là cọp ăn thịt sống, nhiều khi vụn thịt hay gân giắt vào kẽ răng mà cọp không làm thế nào lấy ra được. Nếu không lấy ra thì dễ có nguy cơ mẩu thịt đó lên men, ươn thối làm hỏng nướu và răng cọp. Vì vậy sau khi ăn mồi cọp thường nằm ngửa, há miệng, nhắm mắt lại cho con chim lệnh bậu vào rứt những mẩu thịt đó ra, có con chim còn vào hẳn trong miệng cọp để “làm vệ sinh” răng hàm cọp. Cọp không bao giờ ăn thịt loài chim này. Đó là một kiểu sống cộng sinh mà người ta cũng thấy ở loài khác như chim sáo và trâu. Chim lệnh có tiếng hót rất riêng, âm điệu của nó nhiều người nhớ là “Cro..oong.. bỏi…”. Vì nó luôn đi với cọp nên tiếng hót ấy trở thành âm thanh của tử thần mặc dù con chim nhỏ ấy chẳng làm gì được ai. Anh Trầm giải thích thêm: Cọp thường có máu anh hùng. Nó xem thằng người đội đèn sáng ngúc ngoắc trên đầu kia cũng là một đối thủ hùng mạnh và lạ lẫm. Nó sẽ quan sát xem đối thủ đó là trên cơ hay dưới cơ của nó. Nếu lúng túng bỏ chạy thì dưới cơ, nó chỉ cần lao chụp. Nếu mình cũng rình lại, ngắm nghía nó thì nó chăm chú xem hành vi tiếp theo sẽ là gì. Mình lùi thì nó cũng lùi, mình tiến thì nó cũng tiến! Anh hùng tương ngộ mà lại. Gặp nó thì lùi là thượng sách, tiến là trung sách còn bỏ chạy là hạ sách. Đã gặp hổ thì nên về, thú khác trốn sạch rồi thì còn gì mà săn. Lạ thật đấy, chỉ cần ngửi thấy mùi hổ là bọn thú trốn biệt. Bởi thế, ngày xưa những người vượt Trường Sơn sang Lào thường buộc da cọp vào chân như xà cạp là tránh được các loài dã thú khác trong rừng kể cả gấu, beo hay lợn độc.

    Chuyến săn đó chẳng có kết quả gì nhưng lại là một trong những chuyến đi đáng nhớ nhất trong đời tôi. Nó để lại một ấn tượng rất mạnh khi đối mặt với chúa sơn lâm.

    Những kẻ phá rừng

    Buổi chiều hôm 3 anh em chúng tôi đến chân núi Tánh Linh, Bình Thuận ánh nắng mới xuyên khoai. Chúng tôi tìm đến chòi của anh Hạnh, người địa phương để gửi xe và nấu nhờ cơm. Cái chòi được dựng trên 4 cọc bằng thân cây vững chắc đóng sâu xuống đất, vách bằng phên lồ ô đập dẹp, mái lá. Sàn chòi cách mặt đất đến hơn 2 mét. Có một thân cây khấc bậc làm thang lên. Anh Hạnh ở đây trông rẫy, vợ con anh ở ngoài làng, gần chợ. Chòi nhà anh Hạnh nằm cạnh con đường mòn dẫn vào rừng. Lúc chúng tôi đến, nhìn vào phía cửa rừng thấy bóng người lố nhố, tiếng động lịch kịch. Từ cửa rừng bước ra 5 – 6 người đàn ông, mặt mũi hung dữ, bặm trợn. Họ đến gần quan sát chúng tôi, một người hỏi “Các ông đi đâu?”. Anh Trầm trả lời “Bọn này ở thành phố lên đi săn”. Nhóm người kia xăm xoi nhìn bao súng, ba lô và số xe của bọn tôi rồi hướng về phía rừng hú một hồi dài ghê rợn. Phía trong đó lập tức chuyển động, ùn ùn kéo ra những chiếc xe bò bánh xe cao quá đầu người, chở đầy gỗ mới xẻ. Hàng chục chiếc xe nối đuôi nhau đi ra, mỗi xe được kéo bởi một cặp bò to khoẻ và khoảng 3 – 4 người đi hộ tống một xe. Chúng tôi leo lên chòi nấu cơm ăn, chờ tối sẽ vào rừng. Anh Hạnh khuyên tối nay đừng vào rừng vì người ta vào rừng cưa gỗ đông lắm, thú chạy hết rồi, cứ nghỉ ngơi rồi anh Hạnh sẽ dẫn vào thung lũng bên kia săn mễn, hôm sau hẵng hay.

    Đêm ấy chúng tôi theo anh Hạnh lần theo dòng suối cạn sang thung lũng bên cạnh soi đêm. Đến nửa đêm chỉ được vài con chồn, cheo, không đụng con mễn nào, cả ba anh em quay về chòi ngủ, treo thú cạnh bếp lửa, sáng sớm nhờ anh Hạnh làm thịt, nấu cơm. Trưa hôm sau chúng tôi xách súng vào rừng. Qua cửa rừng chúng tôi gặp rất nhiều người, người nào người nấy lấm lem, mồ hôi nhễ nhại, mắt nhìn gườm gườm đứng quanh hàng dãy xe bò đang chờ chất gỗ lên. Vào được một đoạn chúng tôi gặp một nhóm người đang ăn cơm ngay trên đường đi. Chợt thấy chúng tôi khoác súng đi tới, có người dợm mình định bỏ chạy, người khác nắm chặt lấy chuôi dao, cũng có người bình thản ăn tiếp. Đi một quãng dài, chỗ nào cũng thấy người, đoàn người vào rừng lấy gỗ kể đến hàng trăm. Người ta cưa cây đổ xuống, hễ đặc ruột thì lấy, rỗng ruột thì bỏ. Cây gỗ nhanh chóng được xẻ thành tấm dài độ 5-6 mét rồi xếp lên xe bò. Đám người này làm việc hối hả, anh cưa, anh xẻ, anh khuân gỗ rần rần. Bọn tôi phải đi thật sâu vào rừng vì phía ngoài động, thú chạy hết. Trên đường đi, theo bản năng của thợ săn, chúng tôi biết vẫn có người bám theo. Đến bên một dòng suối cạn, cạnh vách đá, chúng tôi quyết định hạ trại để xem nhóm người kia muốn gì. Dù thế nào thì vẫn phải đề phòng vì những người này trông rất dữ tợn. Sắp xếp xong thì bỗng nghe anh Trầm nói to “Muốn nói chuyện thì cứ vào chơi, việc gì mà thập thò thế”. Thì ra anh nói với toán người bám theo từ lâu đang ngấp nghé trong bụi rậm. Ba bốn tay lực lưỡng đi tới, kẻ cầm mã tấu, người mang gậy. “Úi giời, bọn này đi săn, súng ống rần rần còn chả khoe, mấy cái dao cùn ấy mang đến làm gì” – anh Trầm nói oang oang, tay cầm khẩu súng treo lên cành cây tỏ ý thiện chí. Mấy tay kia cũng đặt dao, gậy xuống phiến đá rồi tiến lại. Một tay hỏi “Thế các bác đi săn thật à?”. “Không đi săn lên đây cho nó ôi người ra à?” – anh Trầm hỏi lại. Rồi anh nói nhiều người vào rừng thế chả chắc còn thú mà bắn, phen này chắc là phèo. Đột nhiên, anh quay sang đám kia hỏi “Các ông đi cưa gỗ thế không sợ kiểm lâm à?”. “Sợ gì, sợ là sợ bộ đội thôi chứ còn kiểm lâm thì bọn này bóp mũi”. “Nếu gặp kiểm lâm thì các ông tính sao?”. “Nhiều thì chạy, ít thì… thịt” - một tay nói tỉnh bơ. Rồi hắn nói thêm “Lúc đầu chúng tôi cũng tưởng các ông là kiểm lâm…”. Nghe lạnh sống lưng. Bọn tôi mang lương khô ra ăn và mời họ cùng ăn. Biết thế, việc ai nấy làm, nếu muốn ngăn cản bọn này thì chính quyền địa phương đã không để như vậy.


    Những cây gõ đỏ cuối cùng

    Năm 1983 khi tôi theo người anh họ vào rừng Đồng Xoài săn thì những cây gỗ quý, đặc biệt là gõ đỏ còn nhiều lắm. Đó là những cây lớn nhiều người ôm, thân cao, thẳng, lừng lững vươn mình lên bầu trời. Tôi còn nhớ như in hình ảnh những cây gõ đỏ oai phong bên bờ suối Nhung, Đồng Xoài, nhìn chúng như những chiến binh vĩ đại của rừng xanh.

    Năm 1991 tôi trở lại nơi săn bắn ngày trước và dễ dàng nhận ra rằng rừng đã thưa đi rất nhiều. Trong rừng xuất hiện nhiều con đường mới, đa phần là đường nhánh mà người ta phá để đưa xe cơ giới vào, mặt đường hằn những vết xe reo (xe chuyên dụng chở gỗ trong rừng) và xe xích. Nhìn kỹ thì nhận ra rằng tất cả các con đường ấy đều hướng đến những gốc cây gõ đỏ bị cưa chỉ còn trơ gốc. Thì ra đã có một cuộc thảm sát gõ đỏ xảy ra gần đây vì vết cưa còn mới.

    Năm 1998 cũng đến nơi cũ, gốc gõ đỏ đã được bứng đi cả rễ, để lại những hố sâu hoắm, tan hoang. Những gốc cây này được đưa về thành phố làm thành những bộ bàn ghế tự nhiên, bày bán nhiều nhất là trên đường Cộng Hoà, Tân Bình.

    Sau năm 2000 không còn rừng nữa, thay vào đó là rẫy trồng khoai mì hay bắp xen lẫn điều, thấp thoáng những nóc nhà.

    Những cây trai bị tra tấn cực hình


    Tôi lạc vào rừng trai một ngày cuối năm 1996. Những cây trai thẳng tắp, cao vút, đứng san sát bên nhau trong một cánh rừng rộng ở Mã Đà, tính ra có đến hàng vạn cây. Chỉ khi đến sát bên từng cây trai mới thấy giật mình. Người ta khoét sâu vào thân cây trai một cái hốc hình hàm ếch có đáy võng xuống để hứng nhựa trai, lỗ khoét vào đến hơn nửa thân cây. Sáng sớm, những người đi lấy nhựa trai gánh can vào rừng. Họ dùng một cái gáo tre để múc nhựa trai và chắt vào can, đến khi đầy hai can thì gánh ra bìa rừng, có xe bò chờ chở về thị trấn. Người ta bán nhựa trai cho những người làm thuyền dùng để trét các khe hở không cho nước ngấm vào thuyền. Nhìn vết đục vào thân cây có cũ có mới có thể suy luận rằng chẳng có ai quan tâm đến những cây trai tội nghiệp này cả. Chợt nghĩ, nếu bão quét qua vùng này thì hàng loạt cây trai sẽ đổ sập vì thân của chúng đã bị đục khoét gần ruỗng. Đáng thương thay.

    Câu chuyện về những gì diễn ra trong những cánh rừng Miền Đông Nam Bộ đã khép lại. Người viết chỉ mong chuyển tải những gì thật mắt thấy, tai nghe và cảm nhận của riêng mình. Đất nước ta thật là rừng vàng biển bạc, nhưng con người lại không biết giữ gìn những báu vật thiên nhiên ấy. Thật tiếc.
     
    #1 nguyenthao, 25/9/09
    Chỉnh sửa cuối: 13/10/09
  2. binhyen

    binhyen
    Expand Collapse
    Hội viên CLB câu cá thể thao TP.HCM

    Tham gia ngày:
    21/7/09
    Bài viết:
    656
    Đã được thích:
    910
    Chú Thảo,

    Hay quá chú ơi. Bài ngắn nhưng sao cháu nghe như mình đang trong rừng thiệt vậy. Cảm ơn chú.

    Thân,
    Bình Yên.
     
  3. EmTapCauCaLoc

    EmTapCauCaLoc
    Expand Collapse
    Active Member

    Tham gia ngày:
    9/9/09
    Bài viết:
    32
    Đã được thích:
    1
    Bài viết của chú rất hay. Sao đang đến lúc hấp dẫn chú lại ngừng vậy. Tiếp đi chú Thảo ơi, hihihi. Chúc chú khỏe ạ.
     
  4. sakura2810

    sakura2810
    Expand Collapse
    Member

    Tham gia ngày:
    22/7/09
    Bài viết:
    16
    Đã được thích:
    2
    A Tú ơi , Bác Thảo có 1 cây steven kìa .
    Bác Thảo ơi , từ đó đến nay Bác có còn đi săn nữa không ? Hiện giờ Bác còn có hứng thú đi săn nữa không ?
     
  5. nguyenthao

    nguyenthao
    Expand Collapse
    Chủ tịch Ban Sáng Lập
    Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    15/7/09
    Bài viết:
    909
    Đã được thích:
    328
    Chào các bạn,

    Phần tiếp theo sẽ có câu trả lời cho các bạn. Còn dài mà.
     
  6. thaytu888888

    thaytu888888
    Expand Collapse
    Well-Known Member

    Tham gia ngày:
    22/7/09
    Bài viết:
    170
    Đã được thích:
    38
    - Bài viết của bác Thảo rất ấn tượng, làm cháu nhớ lại tuổi thơ những trưa hè trốn nhà lang thang cùng ông anh trong những cánh rừng cao su, vườn điều, vũ khí là giàn ná đeo trên ngực. Thời ấy thì sóc, gà rừng, trĩ, bìm bịp...khá nhiều, kinh nghiệm để ko làm bọn này chạy mất là cúi thấp và bước đi như rô bô khi chúng ko để ý, nếu chúng nhìn thấy thì phải ngay lập tức dừng lại, khi đã vào cự ly có thể "khai hỏa" thì cũng phải thật bình tĩnh mà ngắm bắn vì thường chỉ có 1 cơ hội. Thêm nữa là phải thủ sẵn "1 bao tải" đá đỏ để làm đạn, chứ vào trong đó rồi mà hết đạn thì có nước...đi về
     
  7. ductu

    ductu
    Expand Collapse
    Well-Known Member

    Tham gia ngày:
    15/7/09
    Bài viết:
    77
    Đã được thích:
    0
    Bác Nguyên Thảo viết bài hay tuyệt, cháu cũng có máu săn bắn lắm, khi đọc bài này niềm đam mê còn tăng lên gấp bội. Cảm ơn bác về bài viết
     
    #7 ductu, 25/9/09
    Chỉnh sửa cuối: 25/9/09
  8. bigpig

    bigpig
    Expand Collapse
    Banned

    Tham gia ngày:
    11/8/09
    Bài viết:
    534
    Đã được thích:
    31
    Để tôi kể cho các bạn nghe...
    Rồi bây giờ các bạn ghiền... Sao bác kể con cứ như đang coi kênh Animal Planet dzậy đó. Con sẽ thu thập từng phần làm truyện lun.hihihi.:63::63::63: Chúc bác nhiều sức khỏe để có đi tiếp và viết tiếp.
     
  9. dangdung

    dangdung
    Expand Collapse
    Well-Known Member

    Tham gia ngày:
    22/7/09
    Bài viết:
    141
    Đã được thích:
    29
    " Nhưng nếu vào rừng với một khẩu súng trong tay, một băng đạn đeo lưng, một cái đèn săn đội đầu chạy ắc quy đã nạp đủ và một con dao săn sắc bén bên hông thì còn sợ gì nữa "
    Thiếu cái bật lửa bác Thảo ơi !!! cái này wan trọng à nha :76:
     
  10. nguyenthao

    nguyenthao
    Expand Collapse
    Chủ tịch Ban Sáng Lập
    Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    15/7/09
    Bài viết:
    909
    Đã được thích:
    328
    Đúng rồi Dũng à,
    Là nói sợ hay không sợ, chứ cần thì bật lửa lại là thứ cần đầu tiên để nhóm lửa sưởi, nấu nướng và đề phòng dã thú khi ngủ lại trong rừng.
     
  11. EmTapCauCaLoc

    EmTapCauCaLoc
    Expand Collapse
    Active Member

    Tham gia ngày:
    9/9/09
    Bài viết:
    32
    Đã được thích:
    1
    @ Chú Thảo
    Vậy con có một thắc mắc như vậy mong chú trả lời hộ con nhé: " Tại sao hút thuốc trong rừng thì lại gây hỏa hoạn còn đốt luôn một đống lửa để sưởi ấm và nấu nướng thì ko sao ạ?" Hihihi, con đùa một chút cho vui thôi nhưng cái đó cũng là một phần thắc mắc của con ạ, vì con nghe nhiều người nói luật săn bắn trong rưng thì ko được đốt lửa hoặc những hóa chất dễ cháy ạ ( ko biết đúng ko vì con chỉ nghe thôi chứ chưa đi săn bao giờ ). Và con là người hút thuốc mà nếu vào rừng săn bắn mà ko được hút thuốc thì :63:. Thân chào cả nhà ạ.
     
    #11 EmTapCauCaLoc, 26/9/09
    Chỉnh sửa cuối: 26/9/09
  12. Thôi Kệ

    Thôi Kệ
    Expand Collapse
    Bố thằng Nhoắng

    Tham gia ngày:
    12/7/09
    Bài viết:
    2,553
    Đã được thích:
    1,202
    Trả lời Em tập câu cá lóc giùm bác Nguyên Thảo nhé:

    Khi nấu nướng xong, củi than còn đỏ rực, khói còn nghi ngút, con người ta DỄ có ý thức tìm cách dập lửa hơn vì sự việc, hiện tượng nó nằm ngay trước mắt.

    Hút thuốc lá, khi cháy đến đót là quăng, mà do thói quen: quăng đâu có nhìn là quăng đi đâu, nên không để ý. Thuốc thì lại thường cháy chậm và ngầm, nhiều khi bắt nhiệt cháy hết lớp lá khô mới bắt lên lửa, nên đến lúc bùng lên thành 1 đám cháy lớn thì cũng tai hại lắm rồi.

    Thân,
     
  13. EmTapCauCaLoc

    EmTapCauCaLoc
    Expand Collapse
    Active Member

    Tham gia ngày:
    9/9/09
    Bài viết:
    32
    Đã được thích:
    1
    @ Anh Tuananh.N
    Em cảm ơn anh đã trả lời thắc mắc của em. Hihihi. Chúc anh và mọi người trong dd khỏe ạ.
     
  14. nguyenthao

    nguyenthao
    Expand Collapse
    Chủ tịch Ban Sáng Lập
    Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    15/7/09
    Bài viết:
    909
    Đã được thích:
    328
    Tiếp nhé các bạn,

    Cuộc săn tôm kỳ lạ

    Trong một lần theo chúng bạn đến một khu rừng bên bờ Sông Bé đoạn gần Phú Giáo, tôi được chứng kiến tận mắt một cách bắt tôm kỳ lạ mà có lẽ trên thế gian này chỉ ở đây mới có. Hôm đó chúng tôi đi xe máy vào tận trong rừng, đường rất khó đi. Đến khi không còn đường để đi tiếp nữa, chúng tôi dừng lại bên một xóm nhỏ bên ngã ba sông. Gọi là xóm chứ thật ra chỉ có 3 mái lán lá đơn sơ, dựng tạm của những người vào rừng khai thác lâm sản hay đánh cá. Những người này đều có nhà cửa, gia đình ở thị trấn Phú Giáo, họ chỉ vào đây sống tạm trong lúc đóng đăng bắt cá. Chính họ là những người sáng tạo ra phương pháp bắt tôm kỳ lạ mà tôi sẽ kể ngay đây. Người ta bóc vỏ sắn (khoai mỳ) chặt củ sắn ra thành hai hay ba đoạn rồi ngâm vào nước vài ngày cho đến khi bề ngoài của củ sắn trở nên mềm, dính nhơm nhớp thì lấy một cọc tre nhọn cắm sâu vào giữa củ sắn. Họ mang những xiên sắn này ra sông. Nơi họ chọn bắt tôm là chỗ dòng sông mở rộng ra, nước chảy chậm, hơi quẩn, trước đó đã được thăm dò cẩn thận. Họ lội xuống cắm những xiên sắn này xuống đáy sông, đánh dấu rồi lên. Ngày hôm sau, những người này trở lại mang theo một cái máy bơm hơi chạy xăng, vài cuộn ống nhựa mềm, vài quả bóng cao su và những cái xiên làm bằng nan hoa (tăm) xe đạp đã đập dẹp và mài nhọn phía đầu, đuôi cắm vào một cái chuôi bằng trúc hay gỗ có đai sắt giữ chặt. Khi xuống nước, họ quàng vào người những hòn đá to để giữ cho họ khỏi nổi lên khi ngồi dưới đáy, miệng ngậm ống cao su để thở, đầu kia của chiếc ống buộc vào quả bóng cao su cho nổi trên mặt nước để khỏi bị xoắn, các ống cắm chung vào một bộ chia hơi nối với chiếc máy bơm hơi để trên bờ. Họ ngồi từng người bên cạnh cục mồi nơi bọn tôm đang bu lấy để rỉa, dùng dĩa xiên nhanh vào phía đầu con tôm nơi có nhiều râu ria tua tủa để bắt lấy nó, cho vào trong giỏ lưới buộc bên người rồi lại chờ con khác đến. Họ ngồi dưới nước lâu đến hai ba tiếng, lúc lên, ai cũng nhợt nhạt, lạnh cóng, hai hàm răng va vào nhau công cốc. Mỗi ngày một người kiếm được khoảng 1 kg tôm sông khá lớn con, hôm nào hên thì được vài kg theo cách bắt kỳ lạ này. Họ bảo, 1 kg tôm bán được 40 - 50 ngàn đồng (thời điểm 1995), một số tiền mà đi làm rẫy thuê hay phụ hồ ở vùng quê này không thể kiếm được. Họ là những người lao động cần cù, chịu khó nhưng cũng rất sởi lởi, hiếu khách. Trong bữa cơm tối, họ có thể bỏ ra hẳn nửa số tôm thu hoạch được trong ngày để chiêu đãi khách. Chúng tôi khéo từ chối với lý do là lên rừng để thưởng thức món ăn rừng chứ tôm cá thì ở thành phố không thiếu. Thực ra, nhìn những mảng da nhăn nheo tái xám kia, chúng tôi hiểu họ đang đánh đổi sức khoẻ của mình lấy đồng tiền mưu sinh. Đến khi họ rủ chúng tôi đi đào măng thì lại là chuyện khác. Măng lồ ô vào cuối mùa khô nảy ngầm trong đất chờ mùa mưa tới là trồi lên. Mùa này hình như chỉ có con người và loài nhím là có thể phát hiện ra và biết cách đào lấy những củ măng đang mọc ngầm dưới đất. Với cái bụng đói meo vì vận động nhiều, được ăn cơm nóng với món măng tươi chưng tương với cá sông ở giữa rừng ai cũng xuýt xoa sao mà ngon thế.


    Những kẻ phá đám

    Một hôm những người bắt tôm phát hiện một điều chưa xảy ra với họ bao giờ: Số cọc sắn cắm chiều tối hôm trước sáng hôm sau đã biến mất. Không biết ai đã lấy những cái cọc ấy? Đó là công cụ lao động của họ, là miếng ăn của họ và hơn nữa, là hy vọng của gia đình họ. Ở đây, mọi người đầu biết nhau cả. Cũng có những người trong thị trấn hay vùng lân cận vào rừng bắt tôm cá nhưng họ chia nhau ở những khúc sông khác, không ai đến đây mà phá cả. Họ quyết tâm rình xem ai là kẻ phá bĩnh. Họ nấp trong rừng chờ suốt ngày mà không thấy ai ra đó cả nên chập tối cắm lại mớ cọc sắn khác rồi về. Sáng hôm sau họ ra kiểm tra và giật mình chưng hửng: lại mất rồi! Vậy là có kẻ đến vào ban đêm. Hôm sau họ rình cả ngày lẫn đêm mà không bắt gặp kẻ phá quấy dấu mặt đó. Nhân có chúng tôi đến đây lại được trang bị đủ súng đạn, ống nhòm và biết cách tiếp cận đối tượng, họ đề nghị chúng tôi giúp phát hiện kẻ giấu mặt kia. Chúng tôi đến tận nơi quan sát thật kỹ những dấu vết khả nghi. Khi đi theo những lối mòn nhỏ dẫn sâu vào rừng chúng tôi phát hiện một vài cọc tre bị vứt lại, vài cái lõi củ sắn. Không lẽ người nào lấy trộm sắn để ăn? Tại sao đã đi ăn trộm lại không đào sắn tươi mà lại trộm sắn đã ôi thiu vì ngâm nước ở dưới sông? Theo dấu vết, chúng tôi đi sâu vào rừng, chia nhau theo nhiều hướng. Trên một cành cây rất cao, tôi nhìn thấy một con khỉ đực to lớn đang im lặng quan sát chúng tôi. Có lẽ thủ phạm là bọn này đây. Chúng tôi trở lại lán và đề nghị mọi người cứ đi cắm sắn như thường lệ, lúc đến bờ sông thì cố tình làm huyên náo, huơ cao những cọc sắn lên cho những đôi mắt hau háu đang chăm chú theo dõi từ trên những cành cây cao rậm rạp kia nhìn thấy rõ. Rồi họ về hết, chúng tôi đã núp sẵn bên kia bờ sông phía đối diện, im lặng phục kích. Khi bóng người cuối cùng khuất sau bìa rừng, những con khỉ bắt đầu hành động. Con đầu đàn ra hiệu, cả đàn khỉ nhanh nhẹn, im lặng mò ra bờ sông. Một con trèo ngay lên tảng đá to bên sông quan sát canh chừng, đám còn lại nhảy ùm xuống nước. Đến lúc này tôi mới nhìn thấy tận mắt con khỉ bơi, lặn tài như thế nào. Đám khỉ lặn sâu xuống lòng sông, túm lấy các cọc sắn, nhổ lên, bơi nhanh vào bờ. Những phao tiêu nổi trên mặt nước làm dấu dẫn dắt lũ khỉ đến đúng chỗ để bơi ra lặn xuống. Chúng tôi nháy nhau rồi chĩa súng lên trời bóp cò: “đùng, đùng, đùng”, tiếng nổ chát chúa vang lên trong rừng, dội lại âm vang. Lũ khỉ cuống cuồng chạy tháo thân, vứt lại những cọc sắn còn đang gặm dở với những vết răng nham nhở. Chúng tôi ùa ra khỏi chỗ nấp, nhảy cẫng lên như những người chiến thắng. Mấy ông bạn chài nghe tiếng súng chạy hộc tốc đến. “Ai, bọn nào, các bác bắt được chưa?” - họ hỏi dồn. “Bọn khỉ” – chúng tôi trả lời và chỉ cho họ thấy những cọc sắn nham nhở bị vứt lại. Cả bọn bò ra cười. Có người hỏi “Sao không bắn lấy vài con nấu cao?”. Anh Cường, người lớn tuổi nhất trong chúng tôi trả lời “Bọn ấy làm lông xong trông y chang một đứa trẻ nhỏ, hãi lắm”. Từ đó bọn khỉ không đến phá nữa vì chúng rất sợ tiếng súng và ánh chớp đầu nòng. Những người bắt tôm lại tiếp tục ngâm mình dưới nước làm cái công việc mà họ đã chọn. Không biết bây giờ trong số họ ai còn ai mất, có ai còn ngâm mình trong dòng nước sông Bé như thế nữa không?

    (Còn nữa)
     
  15. C5.bahotdua

    C5.bahotdua
    Expand Collapse
    Well-Known Member

    Tham gia ngày:
    13/9/09
    Bài viết:
    225
    Đã được thích:
    16
    truyện bác thảo kể nghe rất thú vị , mong bác sớm up típ
     
  16. Hoan Den

    Hoan Den
    Expand Collapse
    Hội viên CLB câu cá TP.HCM - Ước ao làn da nâu !

    Tham gia ngày:
    22/7/09
    Bài viết:
    95
    Đã được thích:
    5
    Cháu Chào chú Thảo!
    Chú viết hay quá và làm cho cháu, mọi người đều mong có phần tiếp theo để được đọc và học hỏi những kinh nghiệm của chú đã từng trải qua.
    Cảm ơn chú đã chia sẻ những thông tin bổ ích cho diễn đàn
     
  17. nguyenthao

    nguyenthao
    Expand Collapse
    Chủ tịch Ban Sáng Lập
    Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    15/7/09
    Bài viết:
    909
    Đã được thích:
    328
    @emtapcaucaloc

    Những người đi rừng luôn luôn cẩn thận với lửa, đặc biệt là ở rừng miền Đông nơi vào mùa khô, những cánh rừng lớn khô khốc, chỉ cần một mồi lửa là có thể thiêu rụi tất tật, lúc đó, chính kẻ gây ra cháy rừng cũng khó có đường thoát thân.

    Trong rừng, khi cần chụm củi, nấu nướng người ta chọn chỗ khuất gió, đào lõm xuống đất, dọn sạch xung quanh rồi kê đá làm bếp. Lửa trong rừng cháy rất mạnh vì có nhiều oxy. Khi đã cháy đượm, người ta nhặt đá, sỏi vây lấy bếp lửa, giữ cho than hồng. Khi nấu xong người ta hất đất lên cho tắt hẳn. Thú bắn được treo dốc đầu, mổ bụng lấy hết nội tạng ra, lấy giấy bay giẻ lau sạch (tuyệt đối không dùng nước), buộc vào khúc cây treo cạnh bếp lửa đến khi về thì bó mang về, thịt khô nhưng không bị ươn.
     
  18. TieuCai

    TieuCai
    Expand Collapse
    Well-Known Member

    Tham gia ngày:
    4/8/09
    Bài viết:
    64
    Đã được thích:
    3
    Chú Thảo ơi!
    Chú đúng là người tài nhỉ?!? Học cao nè, lên rừng thì cũng đi săn thú được nè, xuống biển cũng câu cá được nè,.... Tài giỏi quá đi :41::41: Không còn nói gì thêm bằng từ quá tài....:53:
     
  19. westerner

    westerner
    Expand Collapse
    Banned

    Tham gia ngày:
    8/9/09
    Bài viết:
    10
    Đã được thích:
    0
    Em nghe các bác trong hội săn bắn kể hàng năm cứ vào ngày chúa nhật đầu của tháng mười là ngày mở rừng, ngày bắt đầu cho mùa săn bắn kéo dài đến tháng 5 năm sau. Có phải Chú Thảo viết bài nầy để hoài niệm thời vàng son không nhỉ?.
    Cũng nóng lòng muốn biết số phận của cây Steven đó rồi ra sao, vì cũng lâu rồi em nó không được đưa đi khám định kỳ mổi cuối năm :105:.
     
  20. nguyenthao

    nguyenthao
    Expand Collapse
    Chủ tịch Ban Sáng Lập
    Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    15/7/09
    Bài viết:
    909
    Đã được thích:
    328
    Tiếp nhé các bạn, tất cả những phần tiếp theo đều thuộc mạch "Trong những cánh rừng miền Đông".

    Săn gà rừng
    Trong những cánh rừng mà tôi đã đến, không đâu nhiều gà rừng bằng rừng Đồng Xoài trước năm 1988. Ở đây tôi đã gặp những đàn gà rừng lên đến gần 50 con ra ăn vào sáng sớm hay xẩm chiều trên những trảng rộng hay bãi sắn mới thu hoạch, trông đỏ cả một vùng. Khi động chúng bay ào ào như bão. Gà rừng cực kỳ tinh mắt. Đó là sự sống còn của chúng. Trong rừng, gà rừng có quá nhiều kẻ thù: chồn, cáo, mèo rừng,… nên chỉ có đôi mắt tinh tường mới cứu được chúng chứ chỉ dựa vào đôi cánh hay tài lủi trong bụi rậm thôi thì khó toàn mạng. Bạn có thể hình dung thế này: Nếu bạn ngồi rình trong bụi cây rậm rạp vào buổi sáng cạnh một bãi đất trống nơi gà rừng sẽ ra ăn và giữ im phăng phắc thì con gà không phát hiện ra bạn. Chỉ cần bạn cử động nhẹ như lắc đầu, phẩy tay hay duỗi chân là lập tức con gà rừng bốc lên bay ngay. Quan sát kỹ mới thấy con gà rừng chỉ bay khi khẩn cấp chứ bình thường thì chúng chỉ lủi hay đi trên mặt đất. Bạn có thể thử bằng cách lấy cành cây lấp lối đi thường ngày của chúng mà xem, nếu có một chỗ nào đó có thể lách qua được thì chúng sẽ lách qua, còn không có thì chúng sẽ đi vòng qua chướng ngại vật chứ không nhảy lên và bay qua, điều mà chúng có thể thực hiện dễ dàng. Chính thói quen này đã hại chúng. Người ta làm những cái bẫy rất đơn giản để bắt chúng. Biết đàn gà thường ra kiếm ăn trên những con đường mòn trong rừng, người đi bẫy chọn chỗ có vết chân gà bới đất còn mới làm chỗ đặt bẫy. Họ chặt cành cây xếp kín trên mặt lối đi, chỉ để hở một khe nhỏ vừa thân con gà lách qua, đóng một cái cọc tre nhỏ bên mép khe hở đó để cài bẫy, phía sau chôn một cần bẫy bằng tre hay lấy ngay cành cây bên lối đi làm cần bẫy, miễn là nó đủ mạnh nhấc bổng con gà dính bẫy lên là được. Dùng dây dù làm một cái thòng lọng treo trong khe hở mà con gà sẽ đi qua sao cho phía trên cao bằng chiều cao cọc lẫy, phía dưới căn tầm ngang diều con gà, buộc đầu kia của sợi dây vào cần bẫy, vít cần bẫy xuống, cài lẫy, kiểm tra lại. Thế là xong. Làm bẫy khoảng 3-4 giờ chiều là có thể đi thăm bẫy vào 6 giờ tối hay 6-7 giờ sáng hôm sau. Con gà rừng chỉ chịu khuất phục khi thòng lọng thít vào cổ nó, còn nếu thít vào chân hay chỗ khác là nó có thể dùng mỏ rứt đứt sợi dây dù và thoát thân.

    [​IMG] [​IMG]
    Gà rừng trống có 2 đồng tiền trắng 2 bên má rất đặc trưng (trái) còn gà nhà thì không có (phải)


    Gà rừng trống nặng từ 1 kg đến 1.3 kg, gà mái nặng khoảng 7 – 8 lạng. Thịt gà rừng ngon vô địch so với tất cả các loài gà nhà từ gà tre, gà ri đến gà trống thiến, không kể gì đến gà công nghiệp. Tuy nhỏ con nhưng gà rừng trống vô cùng mạnh mẽ cả trong chiến đấu lẫn trong việc duy trì nòi giống. Tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh môt con gà rừng trống bay ra tấn công con gà trống nhà để giành gà mái trong sân một gia đình sống gần bìa rừng. Kẻ tấn công nhỏ thó chỉ bằng 1/3 con gà trống nhà tỏ ra vô cùng nhanh nhẹn và có những thế đánh hiểm đến mức chỉ tung ra một cước cũng đã đá rách diều đối thủ, cú đá tiếp theo hạ gục hoàn toàn kẻ to xác. Rồi nhanh nhẹn không kém xấn ngay đến đám gà mái mà hành sự liên tục. Xem ra, con gà trống nhà thua là phải vì kẻ tấn công có thể bay vụt lên rồi bổ nhào xuống với hai cái cựa dài cong, nhọn hoắt (tôi có vài đôi chân gà rừng treo gác bếp khô quắt, cựa của nó mảnh và dài đến gần 5cm, đen bóng dễ sợ). Mà về khoản kia, con gà rừng trống cũng là tay cự phách, nó đạp liên tục đến mấy con gà mái chứ không phải một. Có thịt anh trống này ra mới thấy rõ ngọn nguồn: hai hòn ngọc giống của hắn to gấp rưỡi đến gấp đôi so với ngọc hành của con gà trống nhà! Một chị nọ kể lại câu chuyện bị con gà trống rừng ve vãn mà mặt mũi đỏ bừng. Hôm ấy đến thăm nhà một người họ hàng có nuôi một con gà trống rừng trong chuồng quây lưới B40 kín mít rất rộng để lấy giống. Khi chị này bước vào, kéo cái ống quần đen lên cho khỏi vướng để hở ra một khoảng chân trắng trẻo. Anh gà trống hình dung ra một ả mái đen trắng nõn nà sà ngay đến, xệ cánh ve vãn, chực nhảy ngay lên. Chị này vừa sợ, vừa xấu hổ chạy quẩn trong chuồng, con gà kia vẫn hăm hở bám theo. Ra khỏi chuồng rồi, chị nọ mới quay lại mắng cho một câu: “đồ dê cụ!”. Nghe như bịa, thế mà thật 100% mới lạ. Chả là tôi cũng biết anh bạn nuôi gà rừng ấy. Cứ sểnh ra là nó bay mất luôn, không bao giờ quay trở lại.

    [​IMG]
    Gà lôi trắng. Nguồn: Sách đỏ Việt Nam.

    Trong những cánh rừng phía Nam có nhiều loại gà. Loại phổ biến nhất và giống gà ta nhất được gọi chung là gà rừng. Con trống mào đỏ, phía má có hai đồng xu trắng rất dễ nhận ra, lông màu hung đỏ, đuôi đen và khá dài, gà mái màu vàng nhạt hay xám tro trông rất bình thường. Ở những vùng thuận tiện cái ăn và an toàn chúng sinh sôi rất nhanh.Thường một đàn gà rừng có một con gà trống và hậu cung của nó gồm trung bình 4-5 con gà mái. Gà con theo cha mẹ đến lúc trưởng thành mới tách đàn vì thế đôi khi người ta bắt gặp đàn gà rừng đông đến hơn chục con, trong đó có nhiều con trống. Trong rừng thỉnh thoảng cũng có thể gặp những loài gà khác như gà sao hay gà lôi. Gà sao con trống có màu nhạt, khá to, nặng xấp xỉ con gà rừng trống đã kể ở trên nhưng kich thước phải to gấp rưỡi, gà sao mái có màu xám đen, nhỏ hơn, cả hai đều có những đốm sao trên lông cánh rất đẹp. Điểm đặc biệt của gà sao là gà sao trống có cựa đúp: mỗi bên chân có 2 cựa, cái này dưới cái kia cách khoảng ½ cm. Cựa gà sao không dài và thân cựa không tròn mà dẹp như gai hoa hồng. Gà lôi thì to hơn và rất đẹp. Ở các khu rừng phía Nam có hai loại gà lôi là gà lôi xám và gà lôi trắng. Gà lôi xám có lông màu xám lục phớt, sống trong rừng thưa, con trống đầy đặn, mặt đỏ rực, phía trên đỉnh đầu mọc ra một chùm lông dựng thẳng y như cái ngù rất lạ. Gà lôi mái đầu nhỏ, mình tròn mũm mĩm, lông rất mượt. Chúng thích sống ở nơi hoang vắng, ăn hạt cây, côn trùng nhỏ và ít cỏ, chúng đi nhiều hơn là bay. Ai đã trông thấy chúng đi hàng một cũn cũn trên một lối mòn nhỏ trong rừng thì hẳn sẽ liên tưởng đến một chuỗi ngọc đang uốn lượn rất mềm mại. Gà lôi trắng to hơn, con trống có lông màu trắng, con mái lông màu đất hung. Con mái trông ục ích, to đẫy phải đến 4kg, con trống mảnh mai hơn, nặng chỉ hơn 2kg.

    [​IMG]
    Gà lôi xám. Nguồn: Sách đỏ Việt Nam.

    Bọn gà lôi trắng thích sống trên cao, làm tổ trên vách đá hay cây to mọc trên sườn núi. Chúng bay giỏi hơn gà lôi xám. Cả hai loài gà lôi này đều rất hiếm, ít gặp. Nếu gặp thì chắc chỉ những nơi rừng sâu hoang vắng không dấu chân người vì chúng rất nhát và chúng sợ mùi hóa chất mà con người hay dùng trong phân bón hay thuốc trừ sâu. Có lẽ vì thế mà chúng thoát được bàn tay săn bắt tham lam của con người.

    Bẫy kỳ đà
    Bạn có khi nào nhìn thấy con kỳ đà chưa? Đó là chàng “vệ sinh viên” tự nguyện ở trong rừng. Nó chén sạch tất cả những gì có nguồn gốc động vật bắt đầu bốc mùi. Nhìn nó đi ngúc ngoắc, đầu luôn đảo qua lại, cái lưỡi thè ra đánh hơi y như rắn, bốn chân có móng vuốt mạnh mẽ người ta liên tưởng đến loài cá sấu sông Nil hay rồng Kômônđô nhưng kích thước nhỏ hơn, con trưởng thành vào khoảng hơn 10kg. Kỳ đà là một vận động viên đa năng: Bơi giỏi, biết trèo cây, chạy khá nhanh. Nhờ bộ móng vuốt nó có thể trèo lên cây cao để tấn công tổ chim, ăn trứng chim hoặc chim non. Nó cũng có thể sục xuống nước kiếm thức ăn dưới nước và bơi rất giỏi. Nó thích nước. Tuy nhiên, thức ăn yêu thích của nó lại là xác thú vật chết đang phân huỷ. Người ta lợi dụng thói quen này để bắt kỳ đà. Chọn một khúc suối có vết chân thú xuống uống nước vào mùa khô, nhìn kỹ vì vết chân kỳ đà rất dễ phát hiện bởi khi đi nó không thu móng lại được như thú họ mèo. Khi phát hiện khả năng có kỳ đà, người ta tìm nơi có những bụi lồ ô mọc sát bờ suối, xếp đá thành hai hàng tạo ra một lối đi chỉ vừa mình con kỳ đà, cửa vào hướng về lối xuống suối, ở cuối ngõ cụt bằng đá ấy là nơi đặt mồi và bẫy. Vào đến gần chỗ đặt mồi, người ta làm một cái bẫy thòng lọng kiểu giống như bẫy gà rừng nhưng dùng dây cáp phanh xe đạp, đầu kia buộc vào một ngọn lồ ô đã vít xuống làm cần bẫy. Miếng mồi đặt cách xa cái thòng lọng gần nửa mét - khoảng cách đủ để con kỳ đà chui đầu vào thòng lọng nhưng lại chưa tới miếng mồi. Mồi là một phần của con thú nhỏ đã chết, như con cheo chẳng hạn, được ghim chặt xuống đất để đề phòng con thú khác đến lấy đi. Người ta thường đặt bẫy vào xẩm tối và thăm bẫy sáng hôm sau vì kỳ đà hay đi ăn đêm.

    [​IMG]
    Kỳ đà xám. Nguồn: Sách đỏ Việt Nam

    Con kỳ đà có thính giác tốt, cộng thêm cái lưỡi “nếm” được mùi trong không khí nữa thì ở khoảng cách xa 1-2 km nó sẽ phát hiện ra mùi toả ra từ miếng mồi. Khi mò đến, nó chỉ có cách duy nhất là đi theo gờ đá đã dựng sẵn, chui đầu qua thòng lọng để sát vách đá một cách dễ dàng nhưng khi rướn mình lên để ngoạm con mồi thì vai của nó đã đẩy cần lẫy trượt đi và “vút” một cái, cả cây lồ ô bật lên treo kẻ tham ăn lơ lửng trên dòng suối cạn. Nó không thể thoát được khi vòng cáp bằng thép đã siết chặt cổ nó vì nó không có điểm tựa. Có người bảo thịt kỳ đà trắng và ngon như thịt gà, cũng có nười bảo thịt nó tanh vì ăn xác chết vì vậy mà ít người đi bẫy kỳ đà. Âu cũng là cái may cho chúng. Tôi chưa bao giờ đi bẫy kỳ đà, chỉ nghe kể chuyện và xem người ta làm, viết lại đây để bạn đọc tham khảo chơi.
     
    #20 nguyenthao, 30/9/09
    Chỉnh sửa cuối: 30/9/09

Chia sẻ trang này